Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho biết từ khi mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tình cảm đặc biệt đối với đồng bào ta ở xa Tổ quốc. Trong thư chúc Tết kiều bào năm 1946, Người viết: "Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng."
Tình cảm và tư tưởng đó của Người đã trở thành một mạch nguồn xuyên suốt trong quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Tại cuộc gặp mặt kiều bào tiêu biểu Xuân Quê hương năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi lời thăm hỏi tới toàn thể đồng bào ta ở nước ngoài - những người con ở phương xa nhưng luôn hướng về Tổ quốc, đất nước với tình cảm sâu nặng, niềm tự hào dân tộc và tinh thần trách nhiệm với quê hương, đất nước rất cao.
Từ tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương và công việc thực tiễn của Đảng, Nhà nước và tình cảm hoạt động của nhân dân thể hiện nhất quán một nhận thức: người Việt Nam ở nước ngoài, dù ở đâu, vẫn là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, cùng chung cội nguồn, lợi ích và tương lai của đất nước.
Đây cũng chính là nền tảng tư tưởng và chính trị để Đảng, Nhà nước không ngừng hoàn thiện chủ trương, chính sách về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn phát triển đất nước.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu phát triển ngày càng cao, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cũng đứng trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới.
Kế thừa những kết quả quan trọng của Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị, đồng thời cụ thể hóa yêu cầu của Đại hội Đảng lần thứ XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
4 quan điểm chỉ đạo và 3 mục tiêu lớn
Nghị quyết số 23-NQ/TW xác định 4 quan điểm chỉ đạo và 3 mục tiêu lớn, thể hiện bước phát triển rõ nét về nhận thức và tư duy của Đảng đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
Về 4 quan điểm chỉ đạo, Bộ trưởng Lê Hoài Trung cho biết thứ nhất là nâng tầm nhận thức về vị trí, vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Nghị quyết số 23-NQ/TW tiếp tục khẳng định, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đồng thời xác định là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Đây là bước phát triển quan trọng, đòi hỏi sự chuyển mạnh từ cách tiếp cận cộng đồng chủ yếu dưới góc độ đối tượng của chính sách sang cách tiếp cận coi người Việt Nam ở nước ngoài là chủ thể tham gia, đối tác đồng hành và nguồn lực của quá trình phát triển đất nước.
Bên cạnh đó, Nghị quyết đổi mới về nội hàm và phương thức về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết nêu yêu cầu “nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài.”
Đồng hành không phủ định vận động, tập hợp, chăm lo mà phát triển những công tác đó thực chất hơn. Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo: tạo môi trường, cơ chế, chính sách để đồng bào có thể lựa chọn cách đóng góp phù hợp nhất với năng lực, điều kiện của mình.
Cùng với đó, Nghị quyết đặt công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tổng thể khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, lấy tương đồng để tăng cường đoàn kết, trân trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai.
Nghị quyết nêu rõ công tác người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.
Thông tin về 3 mục tiêu lớn của Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nhấn mạnh mục tiêu, xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vững mạnh, hội nhập tốt và giữ gìn bản sắc dân tộc. Trong số đó trọng tâm là nâng cao địa vị pháp lý, hỗ trợ hội nhập, ổn định đời sống, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và phát huy vai trò của cộng đồng như những “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam.”
Song song đó, Nghị quyết khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và phát huy nguồn lực của kiều bào. Nghị quyết không chỉ coi trọng nguồn lực kinh tế mà còn nhấn mạnh nguồn lực tri thức, khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục, y tế, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới quốc tế và uy tín của cộng đồng.
Ba là, hoàn thiện thể chế và hình thành mạng lưới hệ sinh thái kết nối người Việt Nam toàn cầu. Điểm mới ở đây không chỉ là xây dựng mạng lưới để có kết nối mà hướng tới một hệ sinh thái có khả năng liên kết nguồn lực, vận hành bền vững và tạo ra kết quả cụ thể.
7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp
Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo và mục tiêu nêu trên, Nghị quyết xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.Đó là, tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải được lồng ghép vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực, địa phương.
Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm, đồng thời thường xuyên nắm bắt tâm tư nguyện vọng, lắng nghe và giải quyết những nhu cầu hợp pháp, chính đáng của bà con.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi để đồng bào nâng cao vị thế và phát huy tiềm năng, thể hiện vai trò kiến tạo của Nhà nước.
Xây dựng cộng đồng đoàn kết, phát triển, tích cực hướng về quê hương. Trọng tâm là hỗ trợ bà con củng cố địa vị pháp lý, nâng cao khả năng hội nhập, giữ gìn bản sắc, tăng cường hoạt động hội đoàn, đẩy mạnh hòa hợp dân tộc; đồng thời nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, hỗ trợ pháp lý, nhất là trong các tình huống khó khăn khẩn cấp.
Phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có việc kết nối các chuyên gia, trí thức khoa học, doanh nhân, nhà doanh nghiệp trong các lĩnh vực chiến lược; đồng thời mở rộng phương thức đóng góp từ xa thông qua tư vấn, đào tạo, chuyển giao công nghệ, kết nối đầu tư và thị trường.
Nghị quyết cũng đồng thời nhấn mạnh vai trò kiều bào trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và các nhiệm vụ cụ thể khác.Phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài trong gìn giữ tiếng Việt, bản sắc văn hóa và tăng cường gắn kết với quê hương, trong đó có yêu cầu đổi mới phương thức hỗ trợ, chú trọng thế hệ trẻ, tăng cường các chương trình về nguồn, giáo dục truyền thống, giao lưu, khởi nghiệp và ứng dụng công nghệ số.
Phát huy vai trò chủ thể của kiều bào trong thông tin tuyên truyền. Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin, mà còn có thể trở thành chủ thể lan tỏa thông tin chính xác về Việt Nam, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và góp phần tăng cường sức mạnh mềm, uy tín quốc gia.
Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường nguồn lực và sự phối hợp. Nghị quyết yêu cầu tổ chức bộ máy tinh gọn nhưng đủ thẩm quyền, vị thế và năng lực điều phối; tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan trong nước và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, giữa trung ương và địa phương; bảo đảm nguồn lực và nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
Đồng chí Lê Hoài Trung cho rằng Nghị quyết đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp. Vấn đề quyết định là tổ chức thực hiện như thế nào để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống. Nghị quyết đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan liên quan.
Điểm lại một số việc cần làm ngay sau Hội nghị, đồng chí Lê Hoài Trung kiến nghị khẩn trương thể chế hóa Nghị quyết thành pháp luật, cơ chế chính sách và Chương trình hành động; xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, tiến độ, nguồn lực của từng cơ quan và thời hạn cụ thể và từng địa phương. Rà soát toàn diện các cơ chế chính sách liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài; trước hết là những vấn đề trực tiếp liên quan đến địa vị pháp lý, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bảo hộ công dân, hội nhập và điều kiện để đồng bào tham gia đóng góp cho đất nước.
Bên cạnh đó là thay đổi phương thức kết nối nguồn lực; xác định đất nước đang cần gì và làm thế nào để kết nối đúng người, đúng năng lực và đúng nhu cầu.
Cần xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời xác định rõ nhu cầu về chuyên gia, công nghệ, đầu tư thị trường và các nguồn lực khác của từng bộ, ngành và địa phương. Đồng thời, đo kết quả bằng những chuyển biến thực chất. Mỗi chính sách cần có sản phẩm. Mỗi cơ chế cần có đối tượng thụ hưởng. Mỗi mạng lưới cần tạo ra kết nối. Mỗi nguồn lực được huy động cần gắn với một nhu cầu cụ thể và sản phẩm cụ thể cho đất nước.
"Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của nhân dân và đồng hành của hơn 6,5 triệu đồng bào Việt Nam ở khắp năm châu sẽ đưa Nghị quyết số 23-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống; vừa chăm lo tốt hơn đời sống, quyền lợi và lợi ích chính đáng của đồng bào, vừa phát huy mạnh mẽ hơn trí tuệ, nguồn lực, tình cảm và khát vọng cống hiến của kiều bào; qua đó củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc, kết nối sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên tới," Bộ trưởng Lê Hoài Trung tin tưởng./.




